Hiển thị các bài đăng có nhãn truyện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn truyện. Hiển thị tất cả bài đăng

24/9/12

20120924

"Đôi khi, số phận giống như một cơn bão cát nhỏ cứ xoay chiều đổi hướng liên tục. Mày đổi hướng nhưng cơn bão cát đuổi theo mày. Mày lại quặt ngả khác, nhưng cơn bão cũng chỉnh hướng theo. Cứ thế quay tới quay lui, mày diễn tới cùng cái trò ấy như một điệu nhảy báo điềm gở với cái chết dữ ngay trước bình minh. Tại sao? Vì cơn bão cát ấy không phải là một cái gì từ xổi tới, một cái gì không liên quan đến mày. Cơn bão ấy là mày. Một cái gì bên trong mày. Cho nên tất cả những gì mày có thể làm là cam chịu nó, bước thẳng vào trong cơn bão, nhắm mắt lại và bịt chặt tai để cát khỏi lọt vào và từng bước một đi xuyên qua nó. Ở đó, không có mặt trời, không có mặt trăng, không phương hướng, cũng chẳng có ý thức gì về thời gian. Chỉ có cát trắng mịn xoáy lốc lên trời như xương nghiền tơi thành bụi. Đó là một thứ bão cát mà mày cần tưởng tượng ra. "

"Ý niệm, như 1 quân cờ domino đầu tiên, đổ xuống kéo theo toàn bộ bàn cờ gãy sụp. Lời nguyền xét cho cùng cũng chỉ là 1 ý niệm, ai cũng chịu 1 lời nguyền ngay từ khi chưa ra đời – 1 kiểu di truyền sinh học theo ADN không thể tách rời. Gọi là số phận cũng được, định mệnh cũng được, ngay cả sứ mệnh cũng có thể được, tất cả cũng chỉ là ý niệm. “Nối dài” có thể tới tận “rìa của thế giới” nơi khái niệm không gian và thời gian không tồn tại, chỉ cần 1 xúc tác (căn nhà nhỏ trong rừng sâu, thành phố xa lạ chưa từng đặt chân tới…), ý niệm sẽ sinh tưởng tượng, sinh giấc mơ, sinh hành động và sinh ra chịu đựng hậu quả của hành động và còn nhiều hơn thế, vô tận, khi mà không gian và thời gian không tồn tại."

"Tâm thần phân liệt – là sự chia nhỏ tâm hồn thành nhiều phần, bình thường thì chỉ 2 phần, như phần “con” và phần “người” vốn dĩ đã luôn tồn tại. Con quạ hoặc con mèo, không quan trọng lắm, chỉ là sự cần thiết của việc đối thoại – với chính bản thân mình. Ngôn ngữ, cũng không quan trọng nốt, vì tâm tưởng có thể trao đổi trong im lặng, diễn đạt và biểu cảm không cần cử chỉ. Phần người yếu ớt, bị giam lỏng trong nhưng quy tắc, luật lệ và bức tường ngăn cách càng ngày càng cao của văn minh, bị lời nguyền bạo hành tới mức kiệt quệ tinh thần. Phần con có thể bay lên, có thể nhìn rõ thế giới, có thể tự do mà vượt qua tất cả không gian, thời gian để tìm thấy nhận thức, tìm thấy sức mạnh. Và phần người dựa vào phần con, phần con bị kìm chế bởi phần người, đối thoại, khuyên bảo, và thấu hiểu giữa mình với mình. "

"Kỉ niệm – theo thời gian có thể nhạt nhòa và mất gần như hết các đường nét, nhưng “thời gian ngừng lại” hay “thời gian đông cứng” là một thứ vượt lên trên khái niệm về kỉ niệm. Chỉ tiếc là những kỉ niệm vui khó có năng lực trở thành một thời gian đông cứng. Có lẽ chỉ có những biến cố mang tính chất đau đớn khủng khiếp – như 1 tiếng sét – mới có năng lực làm cho thời gian ngừng lại. Và 1 phần nào đó, phần lớn hay phần nhỏ nào đó, trong nội tâm, đã chết hoặc đã ngừng chuyển hóa hoặc đã dừng lại mãi mãi, cùng với biến cố đó. Không thể xóa nhòa, không thể rũ bỏ. Vậy nên xét cho cùng, có lẽ khoảng khắc quan trọng hơn toàn bộ diễn biến, quan trọng hơn cả sự khởi đầu hay kết quả – những khoảng khắc khiến thời gian đông cứng và khiến 1 phần cũng chết theo.

Lời nguyền truyền kiếp hay luân hồi, dù sao vẫn có thể hóa giải, chỉ bằng “tha thứ”. Đừng đòi hỏi lời xin lỗi từ người khác, hãy đòi hỏi chính mình sự tha thứ. Tha thứ cho người khác có lẽ, có thể, dễ dàng hơn tha thứ chính bản thân mình."

"Tha thứ, để thanh thản, vì một phần đã chết, cách nào cũng là đã chết."

--------haruki murakami-------

23/9/10

Biển sương mù

Thế rồi một ngày nọ Bastian đi tới một bãi biển kia. Thoạt tiên nó nghĩ như thế. Đó là một bãi biển toàn đá tảng dốc đứng. Trước mắt nó, biển trải rộng ra từ những con sóng trắng xóa đông cứng. Mãi sau nó mới nhận ra rằng những con sóng kia không thật bất động, chúng xê dịch rất chậm chạp, tạo ra thủy triều và những con nước xoáy, nhưng khó nhận thấy như sự chuyển động của chiếc kim giờ.

Đó chính là biển sương mù !

Bastian đi dọc theo bờ biển dốc đứng. Trời ấm, ẩm ướt và không một chút gió. Lúc ấy vẫn còn là sáng sớm, nắng chiếu trên lớp sương mù trắng như tuyết đến tận chân trời.

Bastian đi tới đi lui suốt mấy giờ đồng hồ như thế, đến gần trưa nó gặp một thị trần nhà sàn trên biển sương, cách đất liền khá xa. Một chiếc cầu treo dài bềnh bồng nối thành phố này với một mũi của bờ đá. Nó chao qua đảo lại khi Bastian bước trên đó.

Nhà cửa tương đối nhỏ. Cửa ra vào, cửa sổ, cầu thang như được làm cho trẻ con. Mà quả thật, những con người qua lại trên đường phố chỉ lớn như trẻ con, tuy họ toàn là những người đàn ông lớn tuổi râu ria rậm rạp hoặc đàn bà tóc búi cao. Đặc biệt là họ rất giống nhau khiến không phân biệt nổi. Mặt họ màu nâu sẫm như đất ướt, trông hiền lành và trầm lặng. Thấy Bastian họ chỉ gật đầu chứ không chào hỏi. Họ có vẻ rất ít nói, họa hoằn lắm mới nghe một tiếng gọi trên đường phố hay ngõ hẹp, dù sinh hoạt ở đây rất nhộn nhịp. Cũng không hề thấy ai đi một mình, bao giờ họ cũng đi từng nhóm lớn hay nhỏ, khoác hoặc nắm tay nhau.

Nhìn kĩ Bastian mới thấy nhà cửa của họ đều được đan lát cùng một kiểu, nhà này thô hơn, nhà nọ khéo hơn, thậm chí mặt đường cũng đan lát luôn. Sau hết nó thấy ngay đến cả y phục của họ: quần, váy, áo khoác, mũ cũng đều đan lát như thế cả, dĩ nhiên rất khéo và đầy thẩm mỹ. Xem ra ở đây người ta làm gì cũng đều với một chất liệu giống nhau.

Đây đó Bastian có dịp liếc vào những nơi làm việc khác nhau của các thợ thủ công; ai nấy mải miết với những món hàng đan lát: giầy dép, cốc vại, đèn, ly, tách, dù đi mưa ... thảy thảy đều bện. Mà không ai làm việc riêng một mình, vì tất cả những món này chỉ có thể do hợp tác mới thành được. Thật thú vị được thấy họ khéo léo tiếp tay nhau đến mức nào, việc người ngày luôn bổ sung cho việc của người kia. Thường thì họ vừa làm vừa ngân nga những giai điệu đơn giản không lời.

Thành phố không lớn lắm nến Bastian nhanh chóng ra tới vành đai. Cảnh tượng nó nhìn thấy tỏ rõ đây là một thành phố của những người đi biển vì có đến hàng trăm tàu thuyền đủ loại, đủ cỡ. Nhưng quả là một thành phố hơi khác thường của những người đi biển, vì mọi tàu bè, chiếc này cạnh chiếc kia, đều móc vào những chiếc cần câu khổng lồ, lơ lửng đung đưa trên mặt biển sâu mà khối sương mù trắng dầy đặc kéo qua. Ngoài ra các tàu bè này hình như cũng đều được đan lát cả, không buồm, không cột buồm, không mái chèo và bánh lái.

Bastian cúi người qua thanh chắn nhìn biển sương mù. Qua bóng những chiếc cọc đỡ thành phố này được nắng chiếu trên màn sương trắng, Bastian có thể đoán được những cọc ấy cao mức nào

- Đêm đêm, nó nghe thấy tiếng người nói bên canh, sương mù dâng cao ngang thành phố. Bấy giờ chúng tôi có thể ra khơi được. Còn ban ngày mặt trời xé toang màn sướng khiến mặt biển xuống thấp. Đó là điều một khách lạ như anh muốn biết, chứ gì ?

Ba người đàn ống đứng tựa vào những thanh chắn cạnh Bastian hiền lành và thân mật nhìn nó. Nó bắt chuyện với họ và được biết thành phố này tến là Yskal hay còn gọi là " Thành phố Đan lát" . Cư dân ở đây gọi là người Yskalari, đại khái có nghĩa là "những người trong cộng đồng". Ba người này làm nghề đi biển sương mù. Bastian muốn giấu tên để khỏi bị nhận ra, nên bịa rằng nó tên là Một. Ba thủy thủ kia bảo rằng họ không có tên riêng, không cần thiết. Họ đều là người Yskalari, theo họ thế cũng đủ.

Lúc ấy đúng giờ ăn trưa nên họ mời Bastian đi với họ. Bastian cám ơn và nhận lời. Trong lúc cùng nhau ngồi dùng bữa tại một quán ăn gần đó, Bastian được biết mọi điều về Yskal và cư dân của thành phố này.

Biển sương mù kia, mà họ gọi là Skaidan, là một đại dương sương mù bao la ngăn đôi vương quốc Tưởng Tượng. Biển Skaidan sâu cỡ nào, cũng như khối sương mù mênh mông kia từ đâu mà ra thì chưa có ai tìm hiểu. Tất nhiên người ta vẫn hoàn toàn thở được dưới mặt biển, từ bờ, nơi sương mù tương đối mỏng, người ta vẫn có thể đi được một đoạn ngắn trên đáy biển, nhưng phải buộc dây để được kéo vào, vì sương mù này có đặc tính là trong một khoảng thời gian rất ngắn nó khiến người ta mất hết khả năng xác định phương hướng. Nhiều kẻ, hoặc ngông cuồng hoặc khinh suất, đã bỏ mạng chỉ vì một mình đi bộ qua Skaidan. Chỉ có một số ít được cứu thoát. Cách của người Yskalari là phương cách duy nhất qua được bờ bên kia của biển sương mù.

Ấy là bởi vì mọi thứ đan lát của họ - từ đó làm nên nhà cửa, mọi vật dụng, áo quần, cho đến thuyền bè - đều làm từ một loại cói mọc gần bờ, dưới mặt biển sương mù. Qua những gì vừa nói thì dễ thấy rằng việc cắt thứ cói này là chuyện mạo hiểm tới tính mạng. Thứ cói này tuy rất dẻo, thậm chí mềm nhũn trong không khí bình thường, nhưng trong sương mù nó lại mọc thẳng băng, vì nó nhẹ hơn sương mù nên nổi trên đó. Chính vì thế mà thuyền bè làm bắng cói cũng nổi trên làn sương. Áo quần của người Yskalari do đó đồng thời là một loại phao cấp cứu, phòng khi ngã xuống biển sương.

Nhưng đó chưa phải là điều bí mật nhất của người Yskalari và chưa cắt nghĩa được lí do của tính tập thể độc đáo bao trùm mọi hoạt động của họ. Bastian sớm nhận thấy hình như họ không hề biết đến cái từ "tôi", ít ra nó không hề nghe thấy họ dùng từ này, mà chỉ toàn nói "chúng tôi". Lý do tại sao thì mãi sau này nó mới tìm ra.

Khi Bastian biết được, qua lời trò chuyện của ba thủy thủ, rằng họ sẽ ra khơi tối hôm ấy, nó liền hỏi họ có chịu thu nhận nó làm thằng nhỏ giúp việc trên tàu không. Họ mới cho nó biết rằng đi biển Skaidan khác nhiều đi trên những biển khác, vì không biết sẽ đi bao lâu và cập bến nơi nào. Bastian đáp như thế thật đúng ý nó và họ bằng lòng cho nó đi theo.

Khi màn đêm buông xuống thì sương mù dâng lên như chờ đợi. Gần nửa đêm thì cao mấp mé nền thành phố Đan lát. Bấy giờ mọi thuyền bè - trước đây lơ lửng trong không khí - bồng bềnh trên mặt sương trắng. Chiếc tàu có Bastian - một xà lan phẳng, dài khoảng 30 mét - được gỡ thừng cột, liền từ từ trôi ra xa biển sương mù trong đêm tối.

Thoạt nhìn Bastian đã tự hỏi loài tàu này trôi đi nhờ sức đẩy nào, vì tàu không có buồm, mái chèo hay chân vịt. Buồm, người ta giải thích, chẳng ăn thua gì vì trên Skaidan hầu như luôn lặng gió, mái chèo hay chân vịt lại càng không dùng được trên sương mù. Sức đẩy thuyền là một sức khác hẳn.

Chính giữa sàn thuyền có một cái bệ tròn, hơi nhô cao. Bastian đã trông thấy ngay từ đầu, song ngỡ là một đài chỉ huy hay gì đó tương tự. Suốt chuyến đi thường xuyên có 2 thủy thủ, có khi 3 hay 4 hoặc nhiều hơn nữa đứng trên đó ( trên tàu có cả thảy 14 người - không kể Bastian ). Những người trên bệ này bá vai nhau, ngó về hướng tàu đi. Thoạt trông cứ tưởng họ đứng bất động,. Nhìn kĩ mới thấy họ lắc lư rất chậm chạp và đồng bộ trong một điệu múa. Họ vừa múa vừa lặp đi lặp lại một khúc nhạc đơn giản rất du dương.

Mới đầu Bastian cho rằng hành động lạ lùng này là một nghi thức hay tập tục lạ nào đó mà nó không hiểu ý nghĩa. Mãi đến ngày thứ 3 của chuyến đi nó mới hỏi 1 trong 3 thủy thủ quen đang ngồi cạnh. Người này tỏ vẻ sửng sốt trước sự ngạc nhiên của Bastian, mới giải thích rằng họ làm như thế để dùng sức tưởng tượng của họ đẩy tàu đi.

Thoạt tiên Bastian chịu không hiểu nổi, liền hỏi có phải họ khởi động bằng cách nào đó những bánh xe ẩn kín đâu đấy.

- Không, người đi biển sương mù này đáp, khi cậu muốn cử động đôi chân thì chỉ cần tưởng tượng thôi cũng đủ hay cậu còn phải đạp chân trên hệ thống bánh xe nữa ?

Sự khác biệt giữa cơ thể con người và con tàu chỉ ở chỗ ít nhất 2 Yskalari phải nhập sức tưởng tượng của họ hoàn toàn thành một. Chỉ nhập được sức thì mới tạo ra được lực đẩy. Muốn đi nhanh hơn phải có nhiều người hợp lại. Bình thường họ làm việc mỗi ca 3 người, những người kia nghỉ ngơi. Vì trông thì nhẹ nhàng và thanh nhã nhưng đó là một việc nặng nhọc, đòi hỏi tập trung ghê gớm và liên tục. Đó là cách duy nhất để có thể di chuyển trên Skaidan.

Thế là Bastian liền theo những người thủy thủ học điều bí mật của tính tập thể của họ: điệu múa và bài hát không lời.

Rồi dần dần, trong chuyến vượt biển dài đằng đẵng này nó trở thành một người trong bọn họ. Thật sự là một cảm xúc độc đáo không diễn tả nổi của sự quên hết ngoại cảnh và hòa điệu Bastian cảm nhận được trong lúc múa hát, khi sức tưởng tượng của nó hòa với sức tưởng tượng của những người khác thành một sức chung. Nó thật sự đã được thu nhận vào tập thể của họ, gắn bó với họ. Đồng thời nó mất dần kí ức rằng trong cái thế giới của nó - từ đó nó tới đây và hiện đang tìm đường quay trở về - ai cũng có quan điểm và ý kiến riêng. Điều duy nhất nó còn nhớ mang máng là ngôi nhà của nó và bố mẹ nó.

Nhưng ở nơi sâu thẳm của trái tim nó vẫn còn một ước mơ khác đang chớm nhú, ngoài ước mơ hết bị lẻ loi.

Bastian lần đầu tiên để ý đến những người Yskalari đạt được điều chung nhất không phải vì họ hòa đồng những cách suy nghĩ vốn dĩ hoàn toàn khác nhau, mà vì họ giống hệt nhau, thành ra họ không cần cố gắng mà vẫn cảm thấy tính tập thể. Ngược lại họ hoàn toàn không có cơ hội để tranh cãi hay bất đồng, vì không ai trong bọn họ thấy mình là một cá nhân. Họ không phải vượt qua mâu thuẫn nào để có hòa đồng. Chính sự dễ dàng này khiến Bastian dần dần thấy là không ổn. Nó thấy tính hiền lành của họ chán ngắt, khúc nhạc muôn thủa của họ thật đơn điệu. Nó thấy thiếu gì đó, khao khát gì đó mà không thể diễn tả được.

Một ngày nọ Bastian vỡ lẽ ra điều mình khao khát ất. Số là hôm đó mọi người thấy một con quạ - sương - mù khổng lồ bay lượn trên bầu trời cao. các thủy thủ Yskalari hốt hoảng trốn thật lẹ dưới tấm bạt. Nhưng một người không trốn kịp bị con quái vật kia rít lên một tiếng, sà xuống đớp tha đi mất.

Khi tai họa đã qua, những người Yskalari chui ra, tiếp tục chuyến hải hành. Họ lại nhảy múa, ca hát như chẳng có chuyện gì xảy ra. Mối hòa đồng của họ không mảy may bị xáo trộn, họ không hề hay ngỏ lời thương xót kẻ bất hạnh nọ.

- Không, một người đáp khi Bastian hỏi, chúng tôi chẳng thấy mất mát gì cả. Chúng tôi phải than vãn nỗi gì chứ ?

Với họ một cá nhân không đáng kể. Và bởi vì họ chẳng có gì khác nhau, thành ra chẳng có ai là không thay thế được.

Nhưng Bastian lại muốn là một cá thể, là một kẻ nào đó chứ không chỉ là một trong muôn vàn. Nó muốn được yêu thương bởi chính nó là như thế. Trong cộng đồng Yskalari này có hòa đồng, nhưng không có tình thương.

Nó hết còn muốn làm kẻ vĩ đại nhất, khỏe nhất, khôn ngoan nhất nữa. Những chuyện ấy đã qua rồi. Nó khao khát được yêu thương như nó là, dù nó tốt hay không tốt, đẹp hay xấu, khôn ngoan hay đần độn, yêu thương với mọi khuyết điểm của nó, thậm chí chính vì những khuyết điểm ấy.

Mà nó là một kẻ như thế nào ?

Nó không biết nữa. Nó học được nhiều thứ ở vương quốc Tưởng Tượng, thành ra bây giờ tài năng đầy người mà không tìm lại được chính mình.

Từ hôm ấy nó không tham gia múa hát với đoàn thủy thủ nữa. Nó ngồi tuốt ở mũi tàu nhìn Skaidan suốt nhiều ngày, thậm chí suốt nhiều đêm.

Cuối cùng đã tới bờ bên kia. Con tàu chạy biển sương mù cập bến. Bastian cám ơn các thủy thủ Yskalari rồi lên bờ.

Đây là một vùng đất đầy hoa hồng, những rừng hoa hồng đủ màu sắc. Giữa rừng hoa hồng mênh mông là một con đường mòn uốn khúc.

Bastian đi theo con đường đó.

Trích Chương XXIII - Chuyện dài bất tận
Micheal Ende

"About all you can do in life is be who you are. some people will love you for you. Most will love you for what you can do for them, and some won't like you at all."

Rita Mae Brown

9/9/10

Chú Quay và ả Bóng

Một chú Quay và một ả Bóng cùng ở cạnh nhau trong một hộp đựng đồ chơi. Quay bảo Bóng:

- Chúng ta cùng phải sống suốt đời bên nhau sao lại không đính hôn với nhau nhỉ??

Nhưng cô ả Bóng , bọc bằng một loại da dê mịn và đẹp, nên kiêu kỳ chẳng kém gì một tiểu thư khuê các, không thèm trả lời. Ngày hôm sau ,cậu bé con có hộp đồ chơi đem Quay ra sơn vàng sơn đỏ, rồi trang điểm cho chú một chiếc đanh đồng mới tinh. Khi chú quay người chú loáng lên vì màu sắc rực rỡ.Quay bảo Bóng:

- Hãy ngắm tôi một tí nào! Giờ thì cô thấy tôi thế nào? Chúng ta đính hôn với nhau được chưa nhỉ? Chúng mình sinh ra thật xứng đôi vừa lứa. Cô nhảy, tôi quay, còn có cặp vợ chồng nào hạn phúc hơn chúng ta nữa kia chứ!

Bóng đáp:

- Úi chà, tưởng bở ! thế anh không biết cha, mẹ tôi đều là những đôi giày băng túp da dẻ tuyệt đẹp và người tôi bằng lie Tây Ban Nha hay sao?

Quay cãi:

- Hay lắm! nhưng cô nên biết rằng chính tôi cũng toàn bằng vàng tam đấy nhé! Người sinh ra tôi chẳng phải ai xa lạ , chính là ông thị trưởng thành phố, những khi nhàn rỗi, ông tiện chơi đủ các vật xinh đẹp và tôi là tác phẩm của ông ấy đấy.

Cô ả Bóng hơi dịu giọng một chút và hỏi:

- Anh nói thật đấy chứ?

Quay thề luôn:

- Tôi mà nói sai thì từ nay đừng có ai thèm đánh quay này nữa

- Anh quả là biết đề cao. Nhưng anh nên biết rằng việc này không thể được. Tôi gần như hứa hôn với một chàng chim Nhạn. Mỗi lần tôi bay lên không chàng lại thò đầu ra khỏi tổ mà tỏ tình, âu yếm. Trong thâm tâm tôi, tôi đã bằng lòng lấy chàng từ lâu rồi và chúng tôi đã gần như hứa hôn với nhau. Nhưng tôi rất quí trọng tấm tình của anh và xin hứa chẳng bao giờ quên anh đâu.

Quay buồn bã thở dài:

- Thế có lẽ cũng đã tốt rồi đấy, nhưng cũng chẳng đủ an ủi tôi đâu cô ạ!

Đó là những lời trao đổi cuối cùng của chúng. Ngày hôm sau cậu bé con lấy Bóng ra chơi và đập cho bóng nẩy lên không trung. Cô ả lao lên như một con chim. Quay thấy Bóng mất hút đi một lúc. Mỗi lần cô ả chạm đất là để nẩy lên cao, chẳng biết cô ả muốn nhảy lên tận cổ chàng nhạn hay chỉ vì tác dụng của chất lie. Nẩy đến cái thứ chín, ngang đường cô ả biến mất. Cậu bé con tìm đi tìm lại mãi chẳng thấy dấu vết của Bóng, cô ả đã mất tích.

Quay thở ra than rằng:

- Ta biết nàng đi đâu rồi, ở trong tổ chim nhạn chứ đâu nữa? chắc họ lấy nhau rồi còn gì?

Thế rồi càng nghĩ đến Bóng , Quay lại càng cảm thấy nhớ tiếc. Từ khi không gặp lại Bóng nữa, Quay ta lại càng cảm thấy yêu cô nàng hơn bao giờ hết. Bóng đã trở thành vợ kẻ khác, điều đó là Quay ta rất buồn bã. Tuy nhiên, Quay vẫn tiếp tục nhảy múa và réo vù vù. Nhưng chú luôn tưởng nhớ đến nàng Bóng và trong trí tưởng tượng của chú, cô ả ngày càng đẹp mê hồn hơn trước. Cái đó trở thành cái mà người ta gọi là mối tình xưa. Quay chẳng còn trẻ nữa, một hôm người ta đem chú ra sơn kín bằng kim nhủ để làm trò chơi cho đứa trẻ khác. Chưa bao giờ Quay lại bóng bấy như thế. Thật thích thú khi thấy chú ta quay lượn và lấp lánh như mặt trời con. Ôi chao, nếu lúc này mà Bóng nhìn thấy Quay thì phải biết . Bỗng Quay vấp phải hòn đá và nẩy bật ra xa. Chẳng ai biết mà chẳng ai trông thấy chú: chú ngất lịm đi và biến đâu mất. Người ta tìm Quay khắp chốn, tìm cả trong hầm rượu xem chú bị lọt mà rơi xuống hay không. Chẳng thấy gì cả.Thế thì Quay đi đâu? Rơi vào thùng rác hay giữa các đám bụi rậm, vỏ khoai, cuộng bắp cải và rác rưởi bẩn thỉu.

Quay tự hỏi:

- Thế là tong cái nước sơn kim nhủ óng ả của mình rồi đây sẽ ra sao nhỉ ? than ôi, xem nào, xem nào cái đám cặn bã nào vây quanh mình thế nhỉ?

Chú ngó quanh quẩn, thấy một cuộn rau diếp thối và một vật nhỏ tròn tròn trông giống một quả táo héo: đó là một quả bóng đã nhiều năm trong ống máng và giờ đây vẫn đẫm nước mưa. Chợt thấy chú Quay thép vàng, ả Bóng bằng nói ngay:

- Ơn trời, thế là cuối cùng cũng gặp người bằng vai phải lứa để mà chuyện trò. Anh cũng thấy đây, tôi bằng lie Tây Ban Nha bọc toàn bằng da dê và chính tiểu thư xinh đẹp đã khâu ra tôi đấy. Vâng, bây giờ thì chẳng ai tin , nhưng đúng là như vậy. Tôi sắp sửa lấy một chàng chim Nhạn thì bị bén ngay vào một vái máng nước và nằm chết dí ở đây năm năm nay! Than ôi, nước mưa làm tôi trương phình lên thế này! Nom mới xấu xí làm sao! Tôi cam đoan với anh rằng đó là nhục hình với một tiểu thư con nhà khêu các như tôi.

Quay lặng thinh, chú đang tưởng đến mối tình xưa và đoán ngay đây chính là người chú đã yêu say đắm hồi còn trẻ. Bỗng chị Sen đi tới, định đem thùng rác đổ đi. Chị reo lên:

-Ồ này! Con Quay vàng đây rồi! Chị cầm lấy và đem trả về cho trẻ con. Thế là Quay được sống lại cuộc đời vinh quang. Còn Bóng thì bị quẳng ra ngoài phố. Quay chẳng bao giờ nhắc mối tình xưa nữa khi cô ả trương phềnh vì nước mưa, nom rúm ró và gớm ghiếc, cu cậu đã lờ đi, không nhận cô ả nữa.

23/9/09

Suối nguồn


"Hàng ngàn năm trước đây, có một người lần đầu tiên tìm ra cách tạo ra lửa. Người đó có lẽ đã bị thiêu sống bằng chính ngọn lửa mà anh ta dạy những người anh em của mình thắp lên. Anh ta bị coi là 1 kẻ xấu vì đã có quan hệ với ma quỷ, thứ mà loài người luôn khiếp sợ. Nhưng từ đó trở đi, loài người có lửa để giữ ấm, để nấu nướng, để thắp sáng trong hang động. Anh ta đã để lại cho họ 1 món quá mà họ từng không hiểu và anh ta đã xua bóng tối ra khỏi trái đất này. Nhiều thế kỷ sau, có 1 người lần đầu tiên tạo ra cái bánh xe. Người đó có lẽ đã tan xác dưới những bánh xe mà anh ta dạy những người anh em của mình cách làm. Anh ta bị coi là 1 kẻ phạm tội vì đã mạo hiểm vào vùng đất cấm. Nhưng từ đó trở đi, loại người có thể đi tới mọi chân trời. Anh ta đã để lại cho họ 1 món quà mà họ đã không hiểu và anh ta đã mở ra những con đường trên mặt đất.

" Những người đó - những người không chịu phục tùng và luôn đi đầu - đứng ở chương mở đầu của tất cả những truyền thuyết mà loài người ghi lại về thủa sơ khai. Promete đã bị xích vào 1 tảng đá và bị những con kền kền xé xác - bởi vì anh đã ăn cắp ngọn lửa của những vị chúa trời. Adam bị buộc phải chịu đau khổ - bởi vì anh ta đã ăn quả cấm trên cây thiện - ác. Dù truyền thuyết gì đi chăng nữa, ở sâu trong trí nhớ, loài người biết rằng vinh quang của chúng ta bắt đầu từ 1 cá nhân và cá nhân đó đã phải trả giá cho lòng dũng cảm của mình.

"Trong những thế kỷ qua, đã có những người đặt bước chân đầu tiên của họ trên những con đường mới; họ không được trang bị vũ khí gì ngoài tầm nhìn của riêng họ. Họ có mục đích khác nhau, nhưng tất cả đều có một số điều chung: bước chân của họ là bước chân đầu tiên, con đường của họ là con đường hoàn toàn mới, nhãn quan của họ không hề do vay mượn, và phản ứng mà họ nhận được luôn là sự căm ghét. Những nhà phát minh vĩ đại - những nhà tư tưởng, những nghệ sĩ, những nhà khoa học, những nhà sáng chế - đều phải đơn độc chống lại những người cùng thời với họ. Tất cả những ý tưởng mới và vĩ đại đều bị chống đối kịch liệt. Tất cả những phát minh mới và vĩ đại đều bị lên án. Động cơ máy đầu tiên bị coi là ngu xuẩn. Chiếc máy bay đầu tiên bị coi là không tưởng. Chiếc máy dệt đầu tiên đã bị coi là ác quỷ. Việc gây mê bị coi là tội lỗi. Nhưng những người đó, với tầm nhìn không vay mượn, vẫn tiếp tục tiến lên. Họ đã chiến đấu, họ đã đau khổ và họ đã phải trả giá. Nhưng họ đã chiến thắng.

"Một người sáng tạo không bao giờ bị thôi thúc bởi khát vọng phục vụ đồng loại của anh ta, bởi vì chính đồng loại của anh ta luôn chối bỏ món anh ta đem tặng họ; đồng thời món quà đó phá hủy cuộc sống bình thường của anh. Anh ta sáng tạo vì động cơ duy nhất: chân lý. Chân lý của riêng anh, và lao động của riêng anh để đạt tới chân lý theo cách riêng của anh. Mục đích và cuộc đời anh ta nằm ở một bản giao hưởng, một quyển sách, một cỗ máy, một trường phái triết học, một cái máy bay hay một tòa nhà. Nó không nằm ở người nghe nhạc, người đọc sách, người vận hành máy, người đi theo trường phái triết học, người đi máy bay hay người sống trong ngôi nhà mà anh ta tạo ra. Sự sáng tạo, chứ không phải những lợi ích mà người khác được hưởng từ sự sáng tạo ấy. Sáng tạo là cách anh ta thể hiện chân lý của mình. Anh ta đặt chân lý này lên bên trên mọi thứ, bất chấp tất cả loài người.

“Tầm nhìn, sức mạnh, và lòng dũng cảm của anh ta đến từ linh hồn của anh ta. Tuy nhiên, linh hồn của một người lại chính là cái tôi của anh ta. Cái tôi là thực thể làm công việc nhận thức. Cái tôi có chức năng tư duy, cảm giác, đánh giá và hành động.

“Những người sáng tạo luôn là những người có cái tôi. Cái tôi chính là toàn bộ bí mật về sức mạnh của họ - cái tôi ấy đầy đủ trong bản thân nó, tự vận động trong bản thân nó, và tự tái tạo trong bản thân nó. Cái tôi là nguyên nhân đầu tiên, là nguồn năng lượng, là động lực sống, là cội rễ của tất cả. Người sáng tạo không phục vụ cái gì và không phục vụ bất cứ ai khác. Anh ta sống vì chính bản thân mình.

“Và chỉ có bằng cách sống vì bản thân, anh ta mới có thể đạt được những thành tựu vinh quang của loài người. Đó chính là bản chất của sự thành công...

“Loài người có thể tồn tại nhờ trí tụê của mình. Loài người đến trái đất mà không được trang bị vũ khí nào. Bộ óc là thứ vũ khí duy nhất của họ. Động vật kiếm thức ăn bằng sức mạnh cơ bắp. Loài người không có móng vuốt, không có răng nanh, không có sừng; họ cũng không có sức mạnh cơ bắp vượt trội. Loài người phải tự trồng trọt hoặc săn bắn để có thức ăn. Để trồng trọt, họ phải có một quá trình tư duy. Để săn, họ cần có vũ khí, và để làm ra vũ khí - họ cũng cần một quá trình tư duy. Từ nhu cầu đơn giản nhất này cho đến nhưng khái niệm tôn giáo trừu tượng nhất, từ cái bánh xe cho đến tòa nhà chọc trời, tất cả những gì con người đại diện và tất cả những gì con người có đều đến từ một thuộc tính đơn nhất của con người - đó là chức năng tư duy của bộ óc.

“Nhưng bộ óc lại thuộc về cá nhân. Không có cái gọi là bộ óc tập thể. Không có cái gọi là một ý nghĩ tập thể. Một thỏa thuận do một nhóm người đạt được thực ra chỉ là một thỏa hiệp hoặc là giá trị trung bình rút ra từ những ý nghĩ cá nhân. Đó chỉ là một hệ quả có tính phát sinh. Hành động chủ yếu, tức là quá trình tư duy - phải do mỗi cá nhân thực hiện độc lập. Chúng ta có thể chia một bữa ăn cho nhiều người. Nhưng chúng ta không thể tiêu hóa nó trong một cái dạ dày tập thể. Không ai có thể sử dụng phổi của mình để thở cho người khác. Không ai có thể sử dụng bộ não của mình để nghĩ hộ kẻ khác. Tất cả mọi chức năng của thể xác và linh hồn đều có tính cá nhân. Chúng không thể bị chia sẻ hoặc chuyển giao cho người khác.

“Chúng ta thừa kế những sản phẩm tư duy của người khác. Chúng ta kế thừa cái bánh xe. Chúng ta tạo ra một chiếc xe ngựa. Xe ngựa thô sơ trở thành xe ô-tô. Ô-tô trở thành máy bay. Nhưng trong suốt quá trình đó, những gì chúng ta nhận được từ người khác chỉ là sản phẩm cuối cùng trong quá trình tư duy của họ. Cái động cơ thúc đẩy quá rình này chính là khả năng sáng tạo, nhờ nó mà chúng ta lấy những sản phẩm cuối cùng kia làm nguyên liệu để sử dụng và sáng tạo ra sản phẩm mới. Khả năng sáng tạo này không thể đem cho hoặc nhận, không thể chia sẻ hoặc vay mượn. Nó thuộc về các cá thể người đơn lẻ. Khả năng sáng tạo là tài sản của người sáng tạo. Loài người có thể học lẫn nhau. Nhưng học luôn chỉ là sự trao đổi nguyên vật liệu. Không ai có thể cho ai khả năng tư duy. Và khả năng tư duy ấy lại là phương tiện duy nhất giúp chúng ta tồn tại.

“Loài người không được cho sẵn bất cứ cái gì trên mặt đất này. Tất cả những gì anh ta cần - anh ta phải làm ra chúng. Và ở đây loài người đối mặt với sự lựa chọn cơ bản nhất của mình: anh ta chỉ có thể tồn tại được theo một trong hai cách - bằng cách làm việc độc lập với bộ óc của riêng anh ta, hay là trở thành một kẻ ăn bám sống nhờ bộ óc của những người khác. Người sáng tạo chọn cách thứ nhất. Kẻ ăn bám thì chọn cách thứ hai. Người sáng tạo một mình đối mặt với tự nhiên. Kẻ ăn bám đối mặt với tự nhiên thông qua những trung gian.

“Mối quan tâm của người sáng tạo là chinh phục tự nhiên. Còn mối quan tâm của kẻ ăn bám là chinh phục con người.

“Người sáng tạo sống với lao động của mình. Anh ta không cần ai khác. Mục đích cơ bản của anh ta là chính bản thân anh. Kẻ ăn bám sống cuộc đời thứ cấp. Anh ta cần những người khác. Những người khác trở thành động lực chính của anh ta.

“Nhu cầu cơ bản của người sáng tạo là sự độc lập. Một bộ óc biết tư duy không thể hoạt động dưới sự cưỡng bức theo bất cứ hình thức nào. Nó không thể bị đóng yên cương, không thể hy sinh hay khuất phục trước bất cứ điều gì. Nó đòi hỏi sự độc lập tuyệt đối trong cả chức năng và động cơ. Đối với một người sáng tạo, tất cả những mối quan hệ với con người đều là thứ yếu.

“Nhu cầu cơ bản của một kẻ thứ sinh là củng cố quan hệ của anh ta với mọi người để được họ nuôi sống. Anh ta đặt quan hệ lên trên hết. Anh ta tuyên bố rằng loài người tồn tại là để phục vụ người khác. Anh ta rao giảng về chủ nghĩa vị nhân sinh."

“Vị nhân sinh là học thuyết đòi hỏi con người phải sống vì người khác và đặt những người khác lên trên bản thân mình.

“Không ai có thể sống vì người khác. Một người không thể chia sẻ linh hồn anh ta, cũng giống như anh ta không thể chia sẻ thể xác của anh ta. Nhưng những kẻ sống thứ sinh đã lợi dụng chủ nghĩa vị nhân sinh như một thứ vũ khí để lợi dụng và đảo ngược lại những nguyên tắc đạo đức cơ bản của loài người. Loài người đã được dạy dỗ rằng phụ thuộc lẫn nhau chính là một đức hạnh.

“Một người cố gắng sống vì người khác là một người luôn lệ thuộc. Anh ta là một kẻ ăn bám trong động cơ của mình, và anh ta cũng biến những người mà anh ta phục vụ thành những kẻ ăn bám. Mối quan hệ này chẳng tạo ra cái gì khác ngoài sự suy đồi cho cả hai bên. Cái gần nhất với quan hệ này trong thực tế chính là chế độ nô lệ. Chế độ nô lệ về mặt thể xác là đáng ghê tởm, thì nô lệ về tinh thần còn ghê tởm đến mức nào? Kẻ bị buộc làm nô lệ vẫn còn có chút danh dự. Vì anh ta còn dám chống lại chế độ nô lê và coi nó là xấu xa. Còn những người tự biến bản thân thành nô lệ nhân danh tình yêu thương - họ là những sinh vật thấp hèn. Họ đã hạ thấp phẩm giá con người và hạ thấp khái niệm tình yêu thương. Thế mà dây chính là cốt lõi của chủ nghĩa vị nhân sinh.

“Loài người đã được dạy dỗ rằng đức tính tốt đẹp nhất không phải là đạt được một cái gì đó mà là cho đi một cái gì đó. Nhưng một người không thể cho đi những gì mà anh ta không tạo ra. Đầu tiên phải có sáng tạo, sau đó mới là phân phối, nếu không thì chẳng có gì để phân phối cả. Phải có người sáng tạo trướck hi có những người hưởng lợi từ sự sáng tạo. Thế mà chúng ta lại được dạy dỗ để ngưỡng mộ những kẻ sống thứ sinh - những kẻ phân phát những món quà mà họ không tạo ra; chúng ta được dạy để xếp họ lên trên những người đã sản sinh ra những món quà đó. Chúng ta ca ngợi công việc từ thiện. Nhưng chúng ta lại nhún vai coi khinh những nỗ lực để thành công.

“Loài người đã được dạy dỗ rằng mối quan tâm đầu tiên của họ là giúp cho người khác bớt khổ đau. Nhưng khổ đau là một căn bệnh. Chỉ khi có người bị bệnh thì mới cần có người đến để giúp giảm bớt sự đau đớn. Còn nếu chúng ta biến việc giảm khổ đau thành phép thử lớn nhất của đức hạnh thì chúng ta đã biến khổ đau thành một thứ quan trọng nhất trong cuộc sống. Do vậy người ta sẽ mong muốn được nhìn thấy những người khác đau khổ - để người ta có thể trở thành người đức hạnh. Đó chính là bản chất của chủ nghĩa vị nhân sinh. Trong khi đó, người sáng tạo không quan tâm đến bệnh tật, họ quan tâm đến cuộc sống. Nhưng công việc của người sáng tạo lại giúp loại bỏ hết bệnh này đến bệnh khác, cả bệnh tật của thể xác lẫn bệnh tật của tâm hồn. Thành quả của họ giúp giảm nhẹ khổ đau nhiều hơn bất cứ một người theo chủ nghĩa vị nhân sinh nào có thể làm.

“Loài người đã được dạy dỗ rằng đồng tình với người khác là một đức hạnh. Nhưng người sáng tạo lại luôn bất đồng. Loài người đã được dạy dỗ rằng bơi theo dòng nước là một đức hạnh. Nhưng người sáng tạo luôn bơi ngược dòng. Loài người đã được dạy dỗ rằng đứng tụ tập bên nhau là một đức hạnh. Nhưng người sáng tạo lại luôn là người đứng một mình.

“Loài người đã được dạy dỗ rằng cái tôi đồng nghĩa với sự xấu xa, và việc không-có-cái-tôi là đức hạnh lý tưởng. Nhưng người sáng tạo là người vị kỷ theo nghĩa tuyệt đối, còn người không có cái tôi là kẻ không tư duy, không cảm nhận, không đánh giá và không hành động. Bởi vì tư duy, cảm nhận, đánh giá và hành động là những chức năng của cái tôi.

“Đây là chỗ mà sự đánh tráo khái niệm này có tác hại khủng khiếp nhất. Sự đánh tráo này đưa con người đến chỗ không có lựa chọn - và không có tự do. Thay vì hai thái cực tốt và xấu, chúng ta chỉ còn hai khái niệm: vị kỷ hay vị nhân sinh. Sự vị kỷ bị coi là hy sinh những người khác cho bản thân mình. Còn vị nhân sinh trở thành hy sinh thân mình vì những người khác. Điều này đã vĩnh viễn trói một người vào những người khác và khiến cho anh ta không còn lựa chọn nào khác ngoài sự đau khổ: sự đau khổ mà anh ta phải mang vác để thỏa mãn người khác và sự đau khổ mà anh ta gây ra cho người khác để thỏa mãn bản thân anh ta. Đến khi người ta thêm vào một điều khoản - rằng con người phải tìm kiếm niềm vui trong việc hy sinh bản thân thì cái bẫy đã hoàn toàn sập xuống. Con người bị ép phải coi khổ dâm là lý tưởng - vì nếu không, họ chỉ còn một lựa chọn là bạo dâm. Đây là vụ lừa đảo lớn nhất mà loài người đã thực hiện.

“Đây chính là công cụ mà theo đó sự phụ thuộc và khổ đau được duy trì như nền tảng của cuộc sống.

“Sự lựa chọn mà chúng ta phải có không phải là giữa hy sinh bản thân và hy sinh người khác. Sự lựa chọn phải là giữa sống độc lập và sống lệ thuộc. Giữa nguyên tắc sống của người sáng tạo với nguyên tắc sống của những kẻ thứ sinh. Đây chính là vấn đề cơ bản. Nó là lựa chọn giữa sống và chết. Nguyên tắc sống của người sáng tạo được xây dựng trên những nhu cầu của một bộ óc biết tư duy và do đó giúp con người tồn tại được. Nguyên tắc sống của nhưng kẻ thứ sinh được xây dựng trên nhu cầu của một bộ óc không có khả năng tồn tại. Tất cả những gì bắt nguồn từ cái tôi độc lập của con người đều lành mạnh. Tất cả những gì bắt nguồn từ sự lệ thuộc của con người vào người khác đều là xấu xa.

“Người vị kỷ theo nghĩa tuyệt đối không bao giờ bắt người khác hy sinh cho mình. Anh ta sống vượt ra ngoài nhu cầu sử dụng những người khác, dù dưới bất cứ hình thức nào. Anh ta không hoạt động thông qua họ. Trong những lĩnh vực cốt lõi nhât - tức là trong mục đích, động cơ, tư duy, khát vọng, năng lực - anh ta không quan tâm tới người khác. Anh ta không sống vì bất cứ ai - và anh ta không yêu cầu ai phải sống vì anh ta. Đây là hình thức duy nhất để tình bằng hữu và sự tôn trọng lẫn nhau giữa người

“Năng lực của mỗi người có thể khác nhau, nhưng nguyên tắc cơ bản vẫn giữ nguyên: mức độ độc lập, chủ động, và tình yêu công việc của mỗi người là yếu tố quyết định tài năng của anh ta với tư cách là một người lao động và quyết định giá trị của anh ta với tư cách một con người. Sự độc lập là tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá phẩm chất và giá trị của loài người. Anh ta là ai và anh ta tự tạo ra cái gì; chứ không phải anh ta đã làm được hoặc không làm được gì cho người khác. Không có gì có thể thay thế được phẩm giá cá nhân. Và không có tiêu chuẩn nào khác cho phẩm giá cá nhân ngoài tính độc lập.

...

“Quyền đầu tiên của con người trên trái đất này là quyền có cái tôi. Bổn phận đầu tiên của một con người là bổn phận với chính mình. Nguyên tắc đạo đức của anh ta là không bao giờ để người khác quyết định mục đích sống của anh ta. Bổn phận đạo đức của anh ta là phải làm những gì anh ta khao khát, miễn là khao khát đó không do người khác quyết định. Bổn phận đạo đức này phải chi phối sự sáng tạo, tư duy và lao động của anh ta. Những kẻ ăn cướp, những kẻ theo chủ nghĩa vị nhân sinh, hay những kẻ độc tài dĩ nhiên không sống theo bổn phận này.

“Một con người luôn nghĩ và làm việc một mình. Một con người không thể ăn cắp, lợi dụng hay cai trị một mình. Ăn cắp, lợi dụng hay cai trị luôn đòi hỏi phải có nạn nhân. Chúng bao hàm sự lệ thuộc. Chúng là lãnh địa của những kẻ sống thứ sinh.

“Những người cai trị người khác không phải là những người vị kỷ. Họ chẳng tạo ra cái gì cả. Họ tồn tại hoàn toàn thông qua những người khác. Mục đích của họ nằm trong đối tượng mà họ cai trị, trong hành vi nô dịch hóa người khác. Họ cũng lệ thuộc chẳng kém gì những người ăn xin, những người làm công tác xã hội và lũ kẻ cướp. Ở đây, hình thức lệ thuộc không quan trọng.

“Nhưng loài người đã được dạy dỗ để coi những người sống thứ sinh - những tên bạo chúa, những ông hoàng, những kẻ độc tài - như những ví dụ tiêu biểu của lòng vị kỷ. Qua sự đánh tráo khái niệm này, loài người bị lừa vào chỗ hủy diệt cái tôi của bản thân họ và của những người khác. Mục đích của sự lừa đảo này là để hủy hoại những người sáng tạo. Hoặc để kìm kẹp họ. Hai điều này thực sự là một.

“Từ lúc bắt đầu của lịch sử loài người, hai đối thủ đã luôn đứng đối mặt nhau: người sáng tạo và người sống thứ sinh. Khi người sáng tạo đầu tiên tạo ra cái bánh xe, kẻ sống thứ sinh lập tức đáp lại. Anh ta tạo ra chủ nghĩa vị nhân sinh.

“Người sáng tạo - mặc dù bị chối bỏ, thù nghịch, ngược đãi và bóc lột - vẫn đi tiếp về phía trước và kéo cả loài người đi theo bằng sức của mình. Những kẻ sống thứ sinh không đóng góp gì vào quá trình này ngoài việc gây ra những trở ngại. Trận đấu bây giờ được khoác một cái tên mới: cá nhân chống lại tập thể.

“‘Lợi ích chung’ của tập thể đã được chọn làm quyền và lý do để bào chữa cho tất cả chế độ chuyên chế bạo ngược đã từng có trong lịch sử loài người. Cái tập thể đó có thể là một sắc tộc, một giai cấp, hay một quốc gia. Tất cả những cơn ác mộng trong lịch sử đều được thực hiện với động cơ trá hình là chủ nghĩa vị nhân sinh. Đã từng có hành vi ích kỷ nào có sức phá hoại ngang với những thảm họa chết chóc do những người đi theo chủ nghĩa vị nhân sinh gây ra? Lỗi nằm ở chỗ loài người không có đạo đức hay ở chỗ nguyên tắc đạo đức của loài người đã sai từ trong bản chất? Những tên đao phủ khủng khiếp nhất lại thường là những người nhiệt tình nhất. Họ nhiệt tình tin rằng có thể đạt được một xã hội hoàn hảo nhờ máy chém và đội hành quyết. Không ai nghi ngờ quyền giết người của họ bởi vì họ giết người với động cơ vị nhân sinh. Người ta chấp nhận việc ai đó phải bị hy sinh vì những người khác. Diễn viên có thể thay đổi, nhưng nội dung vở bi kịch thì vẫn giữ nguyên. Một người đấu tranh cho nhân quyền luôn khởi đầu bằng những tuyên bố về tình yêu nhân loại và luôn kết thúc bằng một biển máu. Điều đó đang diễn ra và sẽ tiếp tục diễn ra chừng nào loài người vẫn còn tin rằng một hành vi được coi là đức hạnh nếu nó không xuất phát từ cái tôi. Niềm tin này cho phép những kẻ theo chủ nghĩa vị nhân sinh hành động và ép buộc nạn nhân của họ phải chấp nhận điều đó. Những người lãnh đạo của những phong trào tập thể luôn tuyên bố không cần gì cho bản thân họ. Nhưng hãy quan sát những gì họ đã gây ra.

“Điều đức hạnh duy nhất mà con người có thể làm cho nhau và cái thỏa thuận duy nhất cho mối quan hệ hợp lý giữa người với người là - Buông nhau ra!

19/9/09

Tấm gương và những mảnh vỡ

Tôi sẽ kể cho các bạn nghe câu chuyện về một con quỷ.

Một hôm, quỷ ta rất vui sướng vì đã làm ra một tấm gương rất kỳ lạ. Những vật tốt đẹp soi vào đấy đều nom chẳng ra cái gì cả; trái lại những vật xấu xí lại càng rõ nét và nỗi bật hẵn lên, trông lại càng xấu xí hơn. Những phong cảnh đẹp thì trông như mớ rau muống luộc; những người tốt nhất trở thành đáng ghét hay là đi lộn đầu xuống đất, có khi mất cả bụng. Mặt họ méo mó đến nỗi người ta không có thể nhận ra họ nữa. Nếu người ta chỉ có 1 vết tàn nhang thôi thì nhìn vào gương vết tàn nhang đó sẽ loang ra khắp mũi và xung quanh mồm. Qủy cho thế là thích thú lắm. Khi một người có một ý nghĩ tốt thì ý nghĩ đó sẽ phản ảnh trong gương thành những nét nhăn nhó và quỷ ta cười khoái trá về sự phát minh xảo quyệt của hắn.

Tất cả đồ đệ của quỷ (vì quỷ có 1 trường phái) kể lại rằng tấm gương ấy là một kỳ quan. Chúng bảo:

-Bây giờ người ta có thể biết bộ mặt thật của thế giới và loài người.

Và chúng mang tấm gương đi khắp nơi đến nỗi chẳng một vật nào, chẳng một người nào không bị quỷ làm méo mó đi. Chúng muốn bay lên tận trời để nhạo báng các Tiên đồng và cả Chúa trời nữa. Chúng càng bay cao, gương càng nhăn nhó. Khó nhọc lắm chúng mới giữ nổi gương. Chúng bay lên, bay lên mãi và cuối cùng lên tới gần Thượng đế và các Tiên đồng. Tấm gương nhăn nhó rúm ró lại, cong queo đến nỗi tuột khỏi tay lũ quỷ và rơi vỡ tan thành triệu triệu mảnh.

Như thế sự tác hại còn lớn hơn trước nữa vì một số mãnh chỉ bằng hạt cát bị cuốn bay khắp thế giới và một khi đã bay vào mắt người nào là nằm hẳn trong ấy. Thế là những người ấy nhìn mọi vật đều sai cả hoăc chỉ nhìn thấy những cái xấu xa vì mỗi hạt như vậy đều có phép ma như cả tấm gương lớn.

Một số người bị mãnh gương bắn vào tim: thật là khủng khiếp vì tim họ trở thành lạnh như nước đá . Có mấy mảnh to có thể đem làm kính cửa được nhưng chớ có nhìn bạn bè qua những tấm kính ấy!

Còn thằng quỷ thì được mẻ cười vỡ cả bụng...Than ôi! Cho đến ngày nay trong không trung còn vô khối mảnh vỡ của tấm gương thần!